SUY THỞ CẤP | PGS. Đặng Phương Kiệt

Suy thở cấp là một tình huống nguy kịch, xuất hiện khi suy sụp chức năng bộ máy hô hấp, không còn đảm nhiệm được vai trò trao đổi khí, dẫn tới giảm nghiêm trọng nồng độ oxy máu động mạch, có khi tăng CO2, đồng thời nhiễm toan chuyển hóa mất bù hay nhiễm toan hỗn hợp.

TRIỆU CHỨNG SUY THỞ CẤP
1. Tiêu chuẩn lâm sàng
• Giảm hoặc mất rì rào phế nang.
• Co kéo mạnh và sử dụng các cơ hô hấp phụ.
• Vẫn xanh tím mặc dù thở oxy 40% (ngoại trừ bệnh tim có tím).
• Giảm ý thức và giảm đáp ứng với cảm giác đau.
Trương lực cơ tồi.
• Tiếng rên thì thở ra.
• Ho yếu hoặc không ho được. Tiêu chuẩn sinh lí (nếu có điều kiện thực hiện)
• Áp lực oxy động mạch (PaO2) dưới 60mmHg, nếu đang thở oxy 60%.
• Áp lực CO2 động mạch (PaCO2) trên 60mmHg.
Chắc chắn có suy thở nếu có hai dấu hiệu lâm sàng và một dấu hiệu sinh lí
NGUYÊN NH N SUY THỞ CẤP

1. Do tổn thương hệ hô hấp (khoảng 60% các trường hợp)

  • Viêm phế quản phổi.
  • Viêm tiểu phế quản, tụ cầu phổi màng phổi, ho gà (dưới 6 tháng | tuổi).
  • Con hen nặng, viêm phổi do lao, viêm thanh khí phế quản,
  • Dị vật đường thở, đuối nước, vv.
    2. Do tổn thương hệ thần kinh trung ương (khoảng 25% số trường hợp): viêm não, xuất huyết não-màng não, viêm màng não mủ, lao màng não, apxe não, hội chứng Reye, suy gan, ngộ độc, vv.
    3. To liệt các cơ hô hấp: Bại liệt thể cao, hội chứng Guillain – Barré, viêm tủy, chấn thương tủy, vv.
    KĨ THUẬT HỒI SỨC HÔ HẤP
    1. Liệu pháp oxy là liệu pháp cung cấp khí thở (FiO2) và có nồng độ oxy trên 21%. Có thể là:
  • Dùng ống thông qua mũi thường cho FiO2 khoảng 30-40%. – Dùng mặt nạ hay mũ thỏ (hood), FiO2 có thể lên tới 60-80%. – Dùng liều chi cho FiO2 khoảng 25-30%, cách này hiện nay ít dùng.
    Dù dùng theo cách này, oxy đều phải được làm ẩm (qua một bình nước) và làm ấm. Lưu lượng khí thở vào qua ống thông mũi không nên qua 3:/phút và ít hơn nữa nếu là trẻ còn bú. Nên cho thở oxy với liều lượng thấp nhất nhưng vẫn hiệu qủa (áp lực oxy động mạch là 65-85mmHg) để tránh nguy cơ phổi nhiễm độc oxy.
    2. Truyền dịch
    Chỉ định trong các trường hợp: suy thở nặng, nhiễm toan chuyển hóa hay hỗn hợp (viêm tiểu phế quản bít tắc đường thở, vv.), bỏ bú hay bú kém, Sốt cao, tần số thở tăng (trên 60 lần/phút ở trẻ còn bú), SỐc hay nguy CÓ SỐc. Truyền dịch còn là một biện pháp hữu hiệu và an toàn chống bít tắc đường thở (làm loãng đờm và đờm dễ long).
    Lượng dịch truyền khoảng 50ml/kg trọng lượng 24 giờ, dùng dung dịch Dextroza 5% và pha thêm Bicacbonat natri khoảng 3mEq/kg.
    3. Liệu pháp khí dung là biện pháp đưa thuốc (dưới dạng giọt nước) trực tiếp vào tận đường thở. Phân tử nước càng nhỏ càng vào sâu các phế quản trước khi lắng đọng tại đó. Phân tử nưỚc lớn hơn (dùng dụng cụ khí dung dưới áp suất khí quyển), giọt nước chi đọng lại tại tị hầu hoặc đường hô hấp trên. Do vậy, ở trẻ em, nhất là trẻ còn bú, nên cho thở khí dung (bằng máy thích hợp) qua mặt nạ và bao giờ cũng đồng thời cho thở oxy 100%.

Bình luận về bài viết này