Có nhiều nguyên nhân gây tình trạng mất nước ở trẻ sở sinh như ta chảy, viêm ruột hoại tử, nhiễm khuẩn, nên nhiều, vv. Khi có mất nước do nôn hoặc ia chảy, thường kèm theo mất điện giải vì vậy khi điều trị cần chú ý đánh giá mức độ mất nước.

ĐIỀU TRỊ
Thể nhẹ và trung bình
– Cho bú mẹ bình thường
– Mất nước đẳng trương và nhược trương: Cho uống ORESOL (ORS) 10-20ml/kg/3 giờ, đánh giá lại sau 3 giờ.
– Mất nước Lưu trương: Cho uống 20mg/kg, trong đó 2/3 là ORESOL cho uống trước và 1/3 là nước thường cho uống ngay sau đó. Uống trong 3 giờ.
Đánh giá lại tình trạng mất nước sau 3 giờ. Nếu tình trạng vẫn như . trên, tiếp tục cho uống ORESOL 10ml sau mỗi lần ia; Nếu tình trạng nặng thêm như trướng bụng, nên nhiều, ia tăng lên, tình trạng toàn thân mệt mỏi thì phải chuyển sang truyền dịch. Thể nặng phải truyền dịch
Bước 1:
Tạm ngừng cho bú mẹ . Tổng lượng dịch: 30-50ml/kg/1 giờ.
Trong đó:
Glucoza 5% 2 phần. Clorua natri 0,9% 2 phần.
Bicarbonat natri 0,14% 1 phần. Ví dụ: Trẻ nặng 3kg, lượng dịch cần cho bước 1 là:
Glucoza 5% 60ml.
Clorua natri 0,9% 60ml Bicarbonat natri 0,14% 30ml. Truyền tĩnh mạch trong 1 giờ.
Bước 2:
Cho bú mẹ bình thường Thành phần dịch như trên. Tổng lượng dịch 30ml/kg/3 giờ. Bù điện giải theo công thức:

Chú ý:
Trong giai đoạn bồi phụ nước và điện giải, phải tìm nguyên nhân gây mất nước. Nếu do ia chảy cấp thì không điều trị kháng sinh, chi bù nước và cho bú sữa mẹ.
Đặc biệt lưu ý ra chảy cấp ở trẻ sơ sinh thường là triệu chứng của nhiễm khuẩn sơ sinh vì vậy phải thăm khám thật ti mi, theo dõi sát để tìm nguyên nhân ta chảy. Nếu ta chảy có nhiễm khuẩn thì phải dùng kháng sinh.
• Ỉa chảy còn là triệu chứng của viêm ruột hoại tử, nhất là ở trẻ đẻ non,
trẻ bị thiếu dưỡng khí lâu như ngạt, uốn ván bị co giật nhiều, vv. thì trong – điều trị phải nhịn ăn và không áp dụng phác đồ này.
Nếu mất nước do nên nhiều như co thắt môn vị, hội chúng sinh dục thượng thận, viêm màng não mủ, vv. phải tìm nguyên nhân mà tiếp tục điều
Thủ thuật ngoại khoa cơ bản: đọc tiếp