PHÒNG BỆNH

PHÒNG BỆNH BẰNG KHÁNG SINH

NHỮNG ĐIỂM MẤU CHỐT:

 Thực hiện phòng bệnh bằng kháng sinh trong trường hợp vết thương bị nhiễm khuẩn

 Tiêm phòng uốn ván cho bệnh nhân chưa tiêm phòng với biến độc tố uốn ván và tiêm globulin nếu bệnh nhân có nguy cơ bị uốn ván

Phòng bệnh bằng kháng sinh khác với điều trị bằng kháng sinh. Phòng bệnh là mong muốn ngăn ngừa lây nhiễm hoặc làm giảm khả năng lây nhiễm. Nó không có mục đích là ngăn ngừa lây nhiễm trong trạng thái nhiễm bệnh tổng thể. Sử dụng các liều thuốc chữa bệnh nếu đang có sự lây nhiễm hoặc:

 Dùng kháng sinh trước khi phẫu thuật, trong vòng 2 giờ trước khi da bị rạch, để các lớp mô tương xứng trong suốt quá trình phẫu thuật.

 Có thể dùng trên một liều nếu quá trình phẫu thuật kéo dài ( trên 6 tiếng) hoặc nếu có sự mất máu đáng kể.

Không nên sử dụng kháng sinh tại chỗ và rửa vết thương với dung dịch kháng sinh.

Sử dụng kháng sinh dự phòng trong các trường hợp :

 Những nghiên cứu cơ sinh học cho thấy rằng có nguy cơ nhiễm trùng

  • Cấy ghép các cơ quan o Bệnh van tim

o Thay ghép bộ phận giả bên trong

 Các nghiên cứu về y học cho thấy khả năng lành vết mổ bị ảnh hưởng hoặc làm tăng nguy cơ nhiễm trùng:

  • Bệnh đái đường
  • Bệnh tim mạch máu ngoại vi.
  • Khả năng ngoại thư hoặc uốn ván o Miễn dịch kém
  • Buốt ở vết thương o Chấn thương bụng
  • Gãy chỗ ghép
  • Vết thương với mô bị suy nhược
  • Vết rách lớn hơn 5 cm hoặc vết rách hình sao o Vết thương bị nhiễm bẩn

o Nguy cơ  cao  ở  những  vị trí phẫu thuật như  tay hoặc chân

  • Phẫu thuật  mật  và  ruột .

Cân nhắc việc sử dụng các biện pháp phòng bệnh:

 Với những vết thương do chấn thương, có thể không cần sự can thiệp của phẫu thuật

 Khi can thiệp phẫu thuật bị chậm hơn 6 tiếng đồng hồ.

Sử dụng kháng sinh trong tĩnh mạch (IV) cho việc phòng bệnh trong các trường hợp phẫu thuật sạch để giảm nguy cơ nhiễm trùng hậu phẫu, vì trong thực tế da và các dụng cụ chưa bao giờ được vô trùng một cách hoàn toàn.

Đối với việc phòng bệnh cuả bệnh nhân viêm màng trong tim với bệnh tim mạch máu ngoại vi:

 Các quy trình hô hấp miệng và hô hấp trên : đưa qua đường miệng 3g amoxicyllin 1 giờ trước phẫu thuật và 1,5 g, sau liều đầu tiên 6 giờ.

 Quy trình dạ dày ruột và cơ quan sinh dục – niệu: ampicillin 3g, 1 giờ trước phẫu thuật và gentamicin 1,5mg/kg trong cơ (IM) hoặc IV ( liều cao nhất là 80mg), 30 phút trước phẫu thuật

ĐIỀU TRỊ BẰNG KHÁNG SINH

Khi vết thương rộng và đã hơn 6 tiếng, bạn nên cân nhắc liệu nó có bị nhiễm khuẩn không và nên sử dụng các liều điều trị và chế độ ăn uống. Penicillin và metronidazole cung cấp lớp phủ tốt và có giá trị rộng.

Giám sát vết thương đang lành và sự nhiễm trùng một cách đều đặn. Sử dụng việc cấy vi khuẩn và tìm ra những vi khuẩn nhạy cảm nếu chúng có lợi. Tiếp tục liều điều trị kháng sinh từ 5 đên 7 ngày.

PHÒNG BỆNH UỐN VÁN

Chủng ngừa tích cực với độc tố uốn ván (TT) ngăn ngừa uốn ván và được đưa ra cùng với vacxin bạch hầu (TT). Những phụ nữ có thai nên được tiêm chủng để phòng ngừa virut uốn ván sơ sinh. Chương trình tiêm chủng cho trẻ em bao gồm các bệnh bạch hầu, ho gà và uốn ván. Những người chưa tiêm đủ 3 liều biến độc tố uốn ván thì coi như là chưa tiêm chủng và cần tiêm chủng lại.

Những người chưa tiêm chủng khi bị vết thương nhỏ có thể tiêm chủng nếu vết thương có nguy cơ bị uốn ván.;cho dùng cả TT và TD và TIG. Người chưa tiêm chủng phải tiêm nhắc lại ở tuần thứ sáu và sau 6 tháng.

Những ví dụ về vết thương nhiễm trung uốn ván:

  • Vết thương bị nhiễm bẩn hoặc phân o Vết thương bị đâm

o Bỏng

o Phỏng lạnh

o Những vết thương bị bắn với tốc độ cao

Chế độ phòng bệnh uốn ván

Vết thương sạch Nguy cơ thấp Nguy cơ cao

Đã tiêm phòng và Không cần Không cần Không cần

tiêm tăng cường

trong vòng 5 năm

Đã tiêm phòng và Không cần TT or TD TT or TD

5-10 năm sau khi

tiêm tăng cường

Đã tiêm phòng và TT or TD trên 10 năm sau khi tiêm tăng

cường

Chưa hoàn thành TT or TD tiêm phòng hoặc chưa biết

TT or TD TT or TD

TT or TD TT or TD

and TIG and TIG

Không cho dùng TIG nếu biết người đó đã dùng hai liều cơ bản TT hay TD

Bình luận về bài viết này